viết thuê luận văn 99
DỊCH VỤ HỖ TRỢ NGHIÊN CỨU & VIẾT THUÊ LUẬN VĂN UY TÍN NHẤT
HOTLINE: 0989-546-803
BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Bán phá giá là gì? Biện pháp chống bán phá giá trong thương mại quốc tế

Cùng với sự phát triển của xu hướng hội nhập quốc tế, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong việc sản xuất và kinh doanh các mặt hàng sản phẩm. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng xuất hiện tình trạng bán phá giá làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và uy tín doanh nghiệp. Vậy, bán phá giá là gì và tác động của bán bán giá là như thế nào? Chúng ta cùng tìm hiểu rõ qua bài viết dưới đây nhé các bạn.

Bán phá giá là gì?

Trên thế giới tồn tại nhiều quan điểm về việc hiểu thế nào là bán phá giá (Tiếng Anh: Dumping).

Theo từ điển Findlaw legal Dictionary: bán phá giá là “ to sell in quantity at a very low price” (bán hàng hóa với giá rất thấp), theo định nghĩa chuyên ngành là “to sell abroad at less than the market price at home” (bán hàng hóa ở nước ngoài thấp hơn giá tại thị trường trong nước). Theo cách hiểu này, một loại hàng hóa được coi là bán phá giá tại thị trường nước ngoài khi nó đang được bán với giá thấp hơn so với giá nội địa hay còn gọi là giá bán hàng hóa tương tự tại nước xuất khẩu. Tuy nhiên, việc xác định giá hàng hóa của thị trường nội địa, trên thực tế, là không phải dễ dàng thực hiện được, đôi khi là không thể, do hàng hóa đó chỉ được sản xuất để xuất khẩu mà không được đưa ra bán tại thị trường nội địa nước xuất khẩu hoặc không có loại hàng hóa tương tự được bán ở thị trường nội địa để có thể so sánh.

Cũng có quan điểm cho rằng là khi các sản phẩm được bán vào một thị trường với giá bán ở mức dưới giá thành sản xuất thì được xem là bán phá giá. Quan điểm này căn cứ vào việc so sánh mức giá bán của sản phẩm tại thị trường của nước xuất khẩu với giá thành của sản phẩm được tạo nên từ các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất của sản phẩm đó. Tuy nhiên, việc xác định các chi phí cấu thành nên sản phẩm ở mỗi quốc gia sẽ được tính toán khác nhau dựa trên cơ cấu chi phí khác nhau. Do đó, nếu xác định bán phá giá theo cách này sẽ gây ra sự bất hợp lý, không công bằng khi lấy cơ cấu chi phí được tính toán theo cách thức của quốc gia này đem so với quốc gia khác và kết luận về việc bán phá giá.

Cũng có quan điểm cho rằng để tìm ra hành vi bán phá giá cần căn cứ trên cơ sở giá xuất khẩu và giá trị thông thường của hàng hóa bị điều tra có hành vi bán phá giá. Các hiểu này đã được thể hiện tại Điều VI của Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT). Tại Điều VI quy định: “…bán phá giá, tức là việc sản phẩm của một nước được đưa vào kinh doanh thương mại trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm, phải bị xử phạt nếu việc đó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho một ngành sản xuất trên lãnh thổ của một bên ký kết…”. Với cách hiểu này, hành vi bán phá giá đã được xác định trên cơ sở so sánh giữa giá trị thông thường và giá xuất khẩu của hàng hóa, sản phẩm bị nghi là bán phá giá. 

Để làm rõ hơn định nghĩa này, Điều 2 của Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) hay còn gọi là Hiệp định chống bán phá giá (ADA) đã đưa ra định nghĩa cụ thể về bán phá giá như sau:

“Một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường”.

Trong khoa học pháp lý, hành vi bán phá giá có thể được phân biệt với việc bán hạ giá hoặc bán với giá rẻ đến từ việc giảm chi phí ở các khâu hoặc do năng suất gia tăng. Pháp luật coi những hành vi này là cạnh tranh lành mạnh, cần khuyến khích. Tuy nhiên, hành vi bán phá giá lại đi ngược lại với các quy tắc cạnh tranh công bằng của thị trường tự do trong đối xử về giá.

Tóm lại, từ những phân tích trên có thể rút ra kết luận về hành vi bán phá giá như sau: Bán phá giá là hành vi cạnh tranh không công bằng về giá của hàng hóa xuất khẩu tại thị trường nước nhập khẩu. Theo đó, hàng hóa xuất khẩu được bán tại thị trường nước nhập khẩu với giá thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm đó đang được bán tại thị trường nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường.

Tác động của bán phá giá là gì?

Bán phá giá mang tính tích cực và tiêu cực, trên từng đối tượng khác nhau.

Tác động tích cực: 

Bán phá giá mang lại lợi ích cho người tiêu dùng ở nước nhập khẩu: việc hàng hóa được nhà sản xuất, xuất khẩu bán với mức giá thấp hơn giá hiện có trên thị trường, sẽ giúp người tiêu dùng có điều kiện hưởng lợi về giá cả, được mua hàng hóa tốt với mức giá cạnh tranh. Đối với thị trường nước nhập khẩu, việc hàng hóa của các doanh nghiệp nước ngoài được bán với giá rẻ tại thị trường nhập khẩu sẽ làm cho mặt bằng giá cả tại thị trường nói chung có xu hướng giảm đi. Việc này có thể tác động đến nhà sản xuất nội địa theo hai hướng sau: việc nhà xuất khẩu bán phá giá có thể tạo nên động lực khiến cho nhà sản xuất nội địa tập trung tăng cường sức cạnh tranh sản phẩm của mình thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới trang thiết bị nhằm đưa ra được mức giá có thể cạnh tranh hơn. Lúc này, thị trường nước nhập khẩu càng trở nên sôi động hơn, giá sẽ càng rẻ hơn, và chất lượng tốt hơn. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp nội địa không đủ tiềm lực để duy trì sự cạnh tranh, bị yếu thế và bị loại khỏi thị trường. Khi một ngành sản xuất bị đe dọa sẽ kéo theo việc phá sản của nhiều doanh nghiệp thuộc ngành đó, dẫn đến tình trạng mất việc làm và gây ra các tác động dây chuyền không tốt tới những ngành kinh doanh khác.

Đối với nhà sản xuất, xuất khẩu: bán phá giá tạo điều kiện cho nhà sản xuất, xuất khẩu bán được nhiều hàng, có khả năng tăng lợi nhuận, thâm nhập và dần chiếm lĩnh thị trường nước nhập khẩu. Mặc dù giá bán ở thị trường nước ngoài có thấp nhưng vẫn trong sự kiểm soát giá cả của doanh nghiệp và vẫn có lãi thì việc sản xuất vẫn sẽ được duy trì và mở rộng. Chính vì vậy, bản thân các quy định pháp luật quốc tế không tự thân nó không lên án việc phá giá. Hành vi bán phá giá chỉ bị lên án và bị áp dụng các biện pháp chống bán phá giá khi nó gây thiệt hại cho thị trường nước nhập khẩu

Tác động tiêu cực:

Tính tiêu cực của hành vi bán phá giá được thể hiện qua những yếu tố thiệt hại mà nó gây ra cho thị trường nước nhập khẩu như sau: 

Một là, thiệt hại được thể hiện thông qua những tổn hại mà ngành sản xuất sản phẩm tương tự của thị trường nước nhập khẩu phải gánh chịu và mối đe dọa đối với lợi ích của người tiêu dùng khi sản phẩm nhập khẩu đã thực sự chiếm lĩnh được thị trường nước nhập khẩu. 

Hai là, hành vi bán phá giá vi phạm nguyên tắc cạnh tranh công bằng trong thương mại quốc tế. Khi có hiện tượng bán phá giá xảy ra với mục đích đẩy đối thủ cạnh tranh đến bờ vực phá sản, lúc đó nguyên tắc cạnh tranh công bằng tại thị trường nước nhập khẩu đã bị tổn hại nghiêm trọng. Hành vi bán phá giá nhằm triệt hạ nền sản xuất nội địa của nước nhập khẩu cũng đồng thời làm hủy diệt những lợi thế cạnh tranh trong thương mại quốc tế của nước nhập khẩu. 

Ba là, ngành sản xuất nội địa sẽ là đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp và đầu tiên từ hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu. Khi bàn đến việc sử dụng các công cụ pháp luật để ngăn chặn hành vi bán phá giá, nhà nước sẽ gặp phải sự khó khăn trong việc giải quyết mối xung đột giữa quyền lợi của người tiêu dùng đang được thụ hưởng (được mua hàng hóa với giá rẻ) với lợi ích của nhà sản xuất trong nước khi phải hạ giá thành để có thể cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu đang bán phá giá. Vì vậy, nếu chỉ có sự hiện diện của việc bán phá giá thì chưa đủ cơ sở để yêu cầu nhà nước và pháp luật phải tham gia điều chỉnh, chỉ khi có thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa thì nhà nước mới cần can thiệp.

Yêu cầu chống bán phá giá 

Như vậy, việc hàng hóa bị bán phá giá ở thị trường nhập khẩu không phải lúc nào cũng gây hại cho phía nước nhập khẩu, thậm chí là rất có lợi cho phía người tiêu dùng. Tuy nhiên, xét dưới nhiều góc độ khác, bán phá giá lại là một hành vi cạnh tranh thương mại không công bằng, và cần phải được điều chỉnh bởi các quy định về pháp luật chống bán phá giá. Các nước có hàng hóa nhập khẩu BPG luôn tìm cách áp dụng các biện pháp đối phó với vấn đề này nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước tác động tiêu cực từ hành vi BPG của các nhà xuất khẩu. 

Cụ thể, một số nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy yêu cầu các chính phủ hành động chống bán phá giá như sau: 

Một là, xuất phát từ môi trường cạnh tranh nhập khẩu gia tăng tạo ra những áp lực về cạnh tranh giá cả, lợi nhuận, việc làm lên các nhà sản xuất trong nước. Những áp lực đó đã thúc đẩy họ gia tăng vận động hành lang, gây sức ép lên chính phủ để ban hành các biện pháp bảo hộ cho ngành sản xuất trong nước. Cùng với đó, việc cán cân thương mại thâm hụt cũng là một lý do ảnh hưởng đến quyết định sử dụng các biện pháp chống bán phá giá. Cùng với đó, một nguyên nhân khác cũng thúc đẩy hành động chống bán phá giá xuất phát từ tính chất hội nhập thương mại toàn cầu chính là sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng làm cho quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư ngày càng trở nên mạnh mẽ. Quá trình tự do hóa thương mại được thực hiện ở phạm vi khu vực và trên toàn thế giới, dựa trên cơ sở các hiệp định song phương và đa phương. Điển hình cho các thỏa thuận ở phạm vi khu vực là: EU, NAFTA, AFTA… và toàn cầu là WTO. Chính vì thế, khi bàn về hội nhập quốc tế chắc chắn cần đề cập đến những quy định có tính nguyên tắc của WTO. Các nước thành viên của WTO phải thống nhất thực hiện những nguyên tắc cơ bản nhằm xóa bỏ hoặc giảm bớt những rào cản của thương mại quốc tế. Trên thực tế,sự ra đời của WTO là để thúc đẩy tự do hóa thương mại, tuy nhiên WTO thừa nhận rằng, các nước thành viên có thể sẽ phải chống lại cạnh tranh nước ngoài để  bảo vệ sản xuất trong nước. Tuy vậy, WTO yêu cầu các nước phải thông qua thuế quan tiến hành sự bảo hộ đó. Bảo vệ sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh không công bằng phù hợp với nguyên tắc của WTO là cơ sở thúc đẩy yêu cầu chống bán phá giá. Như vậy, để tiếp tục có thể bảo hộ thị trường trong nước khi các rào cản thương mại bị gỡ bỏ dần, các nước đã sử dụng biện pháp chống bán phá giá như công cụ bảo hộ thay thế. 

Hai là, để đối phó và hạn chế những tác động tiêu cực từ việc hàng nhập khẩu bán phá giá, nước nhập khẩu có thể tiến hành các biện pháp chống bán phá giá. Bởi vì, bán phá giá, trong một giai đoạn nhất định, có thể mang lại lợi ích cho người tiêu dùng vì được mua hàng hóa với giá rẻ. Tuy nhiên, nếu xét về mặt lâu dài, thì bán phá giá lại trở thành mối đe dọa đối với lợi ích của người tiêu dùng khi hàng hóa nhập khẩu đó đã thực sự loại bỏ được các hàng hóa cùng loại của nhà sản xuất của thị trường nước nhập khẩu, và nhân cơ hội chiếm lĩnh vị trí thống lĩnh thị trường nhập khẩu. Một khi hàng hóa nhập khẩu đã ở vị trí độc quyền, nó có thể sẽ bắt đầu được tăng giá để bù lại phần chi phí thiệt hại mà doanh nghiệp đã phải gánh chịu do bán phá giá trước đó. Lúc này, không những người tiêu dùng bị thiệt hại mà kéo theo nó là những tác động tới lợi ích chung của cả xã hội. Lúc này yêu cầu chống bán phá giá được đặt ra hơn bao giờ hết nhằm thiết lập lại sự cân bằng của thị trường nhập khẩu, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, loại bỏ những hành vi cạnh tranh không công bằng ra khỏi thị trường.

Chống bán phá giá là gì?

Để ngăn chặn hành vi bán phá giá, chính phủ các nước nhập khẩu đều có những biện pháp xử lý, thậm chí trả đũa nhằm duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh trong thương mại quốc tế, cũng như khắc phục thương mại, bù đắp những tổn thất do bán phá giá gây ra và bảo vệ ngành sản xuất trong nước. Chống bán phá giá là việc các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp phù hợp tác động trực tiếp lên sản phẩm nhập khẩu BPG để nhằm loại bỏ những thiệt hại mà sản phẩm nhập khẩu BPG đó gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự của nước nhập khẩu. 

Tuy rằng biện pháp chống bán phá giá được xếp vào nhóm các biện pháp phi thuế quan nhưng thực chất nó lại thường được ban hành như một phần của luật thuế quan, sử dụng một biện pháp khắc phục giống như thuế quan, mục tiêu cuối cùng của nó là áp thuế chống bán phá giá lên hàng hóa bị điều tra, và cơ quan hải quan sẽ chịu trách nhiệm giám sát việc thi quyết định áp thuế chống bán phá giá. Và ngay cả khi cuối cùng không có mức thuế nào được áp dụng, thì các thủ tục hành chính liên quan tự bản thân nó đã đủ để gây ra những tác động bất lợi lên hàng nhập khẩu. 

Như vậy có thể rút ra kết luận rằng: Chống bán phá giá là hành vi pháp lý được thực hiện bởi đại diện ngành sản xuất trong nước hoặc cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu nhằm khởi xướng một vụ điều tra chống bán phá giá theo những trình tự và thủ tục nhất định đối với hàng hóa bị nghi ngờ đang bán phá giá tại thị trường nước nhập khẩu.

Các biện pháp chống bán phá giá

Theo quy định của ADA, các quốc gia khi có căn cứ cho rằng có hành vi bán phá giá có thể sử dụng các biện pháp chống bán phá giá gồm: Thuế chống bán phá giá, biện pháp tạm thời, và cam kết giá. 

Thuế chống bán phá giá: 

Về mặt bản chất, thuế chống bán phá giá là một khoản tiền nộp bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu thông thương, do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia nhập khẩu ban hành, đánh vào các sản phẩm nhập khẩu nước ngoài bị bán phá giá vào thị trường trong nước. Theo đó, loại thuế này nhằm mục đích chống lại việc bán phá giá và loại bỏ những thiệt hại do việc bán phá giá các hàng hóa nhập khẩu nước ngoài gây ra đối với các ngành sản xuất nội địa. Thông thường, mỗi quốc gia đều có một hệ thống các quy định riêng về thủ tục và điều kiện áp đặt thuế chống phá giá đối với sản phẩm nước ngoài. Trên thực tế, thuế chống bán phá giá được nhiều quốc gia sử dụng như là một hình thức “bảo hộ hợp pháp” đối với các sản phẩm sản xuất trong nước. Thế nhưng, đôi khi quyền này bị lạm dụng khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm bị áp thuế phải chịu mức thuế không hợp lý. Để ngăn chặn hiện tượng này, các nước thành viên WTO đã cùng thỏa thuận về các quy định bắt buộc phải tuân thủ liên quan đến việc điều tra và áp đặt thuế chống bán phá giá, tập trung trong Hiệp định ADA. Theo đó, việc áp dụng thuế bán phá giá chỉ được thực hiện khi xác định đủ ba điều kiện bắt buộc sau đây: 

  • Thứ nhất, hàng nhập khẩu nước ngoài bị bán phá giá
  • Thứ hai, ngành sản xuất sản phẩm tương tự của quốc gia nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể; 
  • Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại nói trên. 

Áp dụng biện pháp tạm thời: 

Biện pháp tạm thời là biện pháp do cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với hàng hóa bị điều tra nhập khẩu trước khi có quyết định cuối cùng về biện pháp chống bán phá giá, nhằm ngăn chặn thiệt hại tiếp tục xảy ra cho ngành sản xuất nội địa trong quá trình điều tra. Biện pháp tạm thời trong chống bán phá giá chỉ có thể được áp dụng khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về thủ tục theo như quy định tại Điều 7.1 của ADA, cụ thể sau đây: 

  • Đã có kết luận sơ bộ của cơ quan có thẩm quyền xác nhận có việc bán phá giá và có thể dẫn đến thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa; 
  • Cơ quan có thẩm quyền kết luận cần áp dụng các biện pháp này để ngăn chặn thiệt hại đang xảy ra trong quá trình điều tra; 
  • Việc điều tra đã được bắt đầu theo đúng quy định; 

Biện pháp Cam kết về giá: 

Theo quy định của ADA, trong quá trình tố tụng cơ quan có thẩm quyền và các nhà sản xuất, xuất khẩu sản phẩm đang bị điều tra chống bán phá giá có thể thỏa thuận với nhau về cam kết về giá. Cam kết về giá là thỏa thuận giữa từng nhà xuất khẩu với cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu trong đó nhà xuất khẩu tự nguyện cam kết tăng giá lên hoặc đình chỉ hành động bán phá giá vào khu vực đang điều tra. Quá trình điều tra sẽ chấm dứt khi cam kết về giá được thông qua, trừ trường hợp các nhà xuất khẩu có yêu cầu tiếp tục điều tra hoặc nếu cơ quan có thẩm quyền quyết định như vậy. Cam kết về giá sẽ tự động chấm dứt hiệu lực khi cơ quan có thẩm quyền có kết luận không có việc bán phá giá hoặc không có thiệt hại đáng kể. Như vậy có thể nhận thấy, ba biện pháp chống BPG này về tính chất, thủ tục áp dụng là không giống nhau, mỗi một biện pháp được áp dụng với mục đích riêng và tại các thời điểm không giống nhau. Nếu như biện pháp cam kết về giá là sự thỏa thuận giữa các nhà xuất khẩu với cơ quan điều tra chống BPG về việc sẽ tăng giá hàng hóa hoặc chấm dứt hành vi BPG, để có thể chấm dứt vụ kiện; Biện pháp tạm thời lại được cơ quan điều tra chống BPG áp dụng sau khi có kết luận sơ bộ, nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra cho ngành sản xuất trong nước trong thời gian cuộc điều tra tiếp tục diễn ra; Trong khi đó, biện pháp áp thuế chống BPG là biện pháp được sử dụng sau khi có kết luận cuối cùng về 40 hành vi BPG và thiệt hại. Nếu biện pháp cam kết về giá được áp dụng thì cuộc điều tra được chấm dứt và không có việc áp dụng 2 biện pháp còn lại. Tuy nhiên, nếu biện pháp cam kết về giá không đạt được sự đồng thuận, thì tiếp theo đó biện pháp tạm thời sẽ có thể được áp dụng trong quá trình điều tra, và thuế chống bán phá giá sẽ là biện pháp cuối cùng sau khi các biện pháp trên đã được áp dụng không thành công (cam kết giá), hoặc hết thời hạn áp dụng (biện pháp tạm thời) và có quyết định áp thuế chống BPG của cơ quan có thẩm quyền.

Có thể bạn quan tâm:

Dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ, luận văn tốt nghiệp uy tín | Miễn phí tư vấn

Luật chống bán phá giá

Luật chống bán phá giá của một quốc gia là pháp luật do cơ quan có thẩm quyền của quốc gia đó ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp sinh trong lĩnh vực bán phá giá hoặc chống bán phá giá nhằm bảo hộ sản xuất trong nước trước hành vi bán phá giá hàng hóa của doanh nghiệp nước ngoài tại thị trường quốc gia nhập khẩu.

Đặc điểm của luật chống bán phá giá

Bảo hộ thương mại đối với sản xuất trong nước: Mục tiêu chính của các biện pháp chống bán phá giá là bảo hộ thị trường trong nước, đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế và giảm đi áp lực cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu lên các nhà sản xuất tại nước nhập khẩu. Bên cạnh đó còn có mục đích chính trị, một số nước sử dụng chống bán phá giá như một đòn thương mại nhằm trả đũa các hành vi bảo hộ mà nước khác đã áp dụng đối với nước mình trước đó.

Pháp luật chống bán phá giá gồm những quy định chặt chẽ về thủ tục: Về mặt thủ tục, một vụ điều tra chống bán phá giá luôn được áp dụng điều tra theo một trình tự thủ tục xác định. Trong quá trình điều tra, một biện pháp khắc phục tạm thời được áp dụng là biện pháp “khẩu lưu” hàng hóa, tức là các mặt hàng đang bị nghi ngờ bán phá giá sẽ bị tạm giữ trong giai đoạn điều tra, điều này sẽ tác động xấu đến nhà sản xuất.

Vai trò của luật chống bán phá giá trong thương mại quốc tế là gì?

Pháp luật chống bán phá giá được coi là một công cụ quan trọng, hợp pháp để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước, đặc biệt khi các hàng rào thuế quan được dỡ bỏ theo các cam kết quốc tế đã đề ra.

Pháp luật về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ được coi là một trong ba trụ cột của hệ thống pháp luật phòng vệ thương mại được áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập của hàng hóa nước ngoài. Luật chống bán phá giá để đối phó với hành vi bán sản phẩm với giá thấp để chiếm lĩnh thị trường và tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh.

Pháp luật chống bán phá giá cho phép các quốc gia nhập khẩu áp thuế bổ sung nhằm vào các nhà sản xuất hoặc quốc gia cụ thể để khắc phục các hành vi thương mại không công bằng và giúp các ngành công nghiệp trong nước trước sự gia tăng đột biến của hàng hóa nhập khẩu.

Pháp luật chống bán phá giá còn cho phép các ngành công nghiệp của nước nhập khẩu nộp đơn khiếu nại về hoạt động bán phá giá ở nước thứ ba lên cơ quan có thẩm quyền, yêu cầu cơ quan này bảo vệ quyền lợi theo quy định hiện hành.

Pháp luật chống bán phá giá thực hiện nhiệm vụ ngăn chặn các doanh nghiệp nước ngoài bán sản phẩm xuất khẩu với giá thấp hơn giá các sản phẩm tương tự tại thị trường trong nước.

Thông qua pháp luật chống bán phá giá, các doanh nghiệp trong nước tham gia vào việc sản xuất các mặt hàng cạnh tranh với hàng nhập khẩu có thể tiếp nhận phần thị phần bị mất của các doanh nghiệp nước ngoài.

Trên đây là nội dung về bán phá giá là gì và quy định pháp luật, chính sách về chống bán phá giá ở Việt Nam. Có thể nói rằng, hành vi bán phá giá là một hành vi vi phạm pháp luật cần ngăn chặn để đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Chúng tôi hy vọng những nội dung này đã mang lại cho bạn những hiểu biết khái quát về chủ đề này. Nếu như bạn đang gặp khó khăn với bài luận văn thạc sĩ luật học về bán phá giá, hãy liên hệ với chúng tôi để nhận được sự hỗ trợ ngay bây giờ nhé!

ĐĂNG KÝ ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN LUẬN VĂN
Họ tên (*)
Địa chỉ Email (*)
Số điện thoại (*)
 
BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM
THÔNG TIN LIÊN HỆ - LUẬN VĂN 99

DỊCH VỤ HỖ TRỢ NGHIÊN CỨU

- VP Hà Nội: Tòa nhà Nam Đô, 609 Trương Định, Thịnh Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội

- VP HCM: Tòa nhà Dali, 24C, Phan Đăng Lưu, P.6, Bình Thạnh, Hồ Chí Minh

Điện thoại: 0989-546-803

Email: dichvuluanvan99@gmail.com

Copyright © 2008 by LV99 - Top các dịch vụ viết thuê luận văn uy tín